Văn Chẩn Tế Thất Thủ Kinh Đô - Nhật Chiếu
Giữa dòng chảy của lịch sử dân tộc, có những ngày tháng đã lùi xa nhưng vẫn còn in đậm trong ký ức của bao thế hệ. Ngày hai mươi ba tháng Năm năm Ất Dậu, tức năm 1885, biến cố Thất thủ Kinh Đô đã để lại một vết thương sâu trong lòng Cố đô Huế. Khói lửa chiến tranh không chỉ làm đổi thay vận mệnh của một triều đại, mà còn cướp đi sinh mạng của biết bao quân dân vô tội, quan quân, nghĩa sĩ và những con người bình thường đang lặng lẽ mưu sinh giữa kinh thành.
.png)
Trải qua hơn một thế kỷ, thành quách đã phủ rêu phong, dòng Hương vẫn lững lờ trôi, núi Ngự vẫn lặng yên soi bóng. Chỉ có lòng người xứ Huế vẫn âm thầm gìn giữ nén hương tưởng niệm đối với những bậc tiền nhân đã khuất. Từ lòng tri ân ấy, vua Thành Thái đã chuẩn định hằng năm cử hành lễ tế các nạn nhân Thất thủ Kinh Đô, lập Đàn Âm Hồn để tưởng niệm những người đã bỏ mình trong cơn binh biến. Nghi lễ ấy không nhằm khơi lại hận thù, mà để nhắc nhở đạo lý uống nước nhớ nguồn, lấy lòng nhân nghĩa để xoa dịu những đau thương của lịch sử.
Theo tinh thần Phật giáo, mọi chúng sinh khi đã rời bỏ thân tứ đại đều bình đẳng trước nhân quả. Không còn phân biệt vua hay dân, tướng sĩ hay thường dân, người chiến thắng hay người chiến bại, tất cả đều là những hương linh cần được thắp sáng bằng ánh sáng của từ bi và trí tuệ. Một nén tâm hương, một thời kinh cầu siêu, một đàn tràng chẩn tế không chỉ là sự tưởng niệm đối với người đã khuất, mà còn là cơ hội để người còn sống nuôi lớn lòng bao dung, hóa giải oán kết và gìn giữ hòa bình cho mai sau.
Những bài văn thỉnh cô hồn và văn chẩn tế trong tập này được biên soạn theo thể lục bát truyền thống, kế thừa tinh thần nghi lễ Phật giáo Việt Nam và âm hưởng văn hóa Cố đô Huế. Nội dung được sắp xếp theo trình tự của một đàn tràng cầu siêu, từ khai thỉnh, xướng duyên khởi, cung thỉnh hương linh, khuyến hóa quy y Tam Bảo, thọ cam lộ pháp thực cho đến hồi hướng siêu sinh. Mỗi lời kệ, mỗi câu thơ đều là một nén hương lòng kính dâng đến những người đã khuất trong biến cố Thất thủ Kinh Đô, đồng thời gửi gắm khát nguyện về một thế giới không còn chiến tranh, không còn chia lìa, nơi lòng từ bi được thắp sáng trong mỗi con người.
Nguyện đem chút lòng thành này dâng lên Tam Bảo, tưởng niệm tiền nhân, cầu nguyện cho tất cả hương linh nương nhờ Phật lực mà tiêu trừ nghiệp chướng, hóa giải oan khiên, đồng sinh về cảnh giới an lành. Cũng nguyện cho người đang hiện hữu biết trân quý hòa bình, gìn giữ cội nguồn và sống với nhau bằng tình thương, để những đau thương của quá khứ mãi mãi chỉ còn là bài học cho hậu thế, không bao giờ trở lại trên quê hương đất Việt.
VĂN CHẨN TẾ THẤT THỦ KINH ĐÔ
Phần I – Khai thỉnh, xướng duyên khởi, thỉnh hương linh
Nam mô Phật ngự Tây phương,
Hào quang soi khắp mười phương nhiệm mầu.
Chuông ngân lắng đọng canh thâu,
Khói trầm nghi ngút nhiệm màu đạo thiêng.
Hương hoa một dạ chí thành,
Cung nghinh Tam Bảo giáng lâm đạo tràng.
Long Thiên Hộ Pháp đạo vàng,
Chứng minh pháp hội khai đàn hôm nay.
Nguyện nhờ Phật lực cao dày,
Tiếp đường giác ngộ mở bày từ quang.
Lặng nghe chuông vọng ngân vang,
Thỉnh mời cô phách muôn ngàn về đây.
Hôm nay tháng Năm đến ngày,
Kinh thành tưởng niệm tháng ngày bi thương.
Nhớ năm Ất Dậu tai ương,
Can qua một thuở phủ đường Phú Xuân.
Khói bay mờ cả cung thành,
Lầu son điện ngọc tan tành khói mây.
Sông Hương còn chảy đêm ngày,
Mà bao hồn cũ còn đầy nhớ thương.
Người vì xã tắc biên cương,
Người vì trung nghĩa dặm trường chẳng lui.
Người còn tuổi ngọc xuân tươi,
Đã theo khói lửa về nơi vô thường.
Người nơi thành nội phố phường,
Người ngoài cửa khuyết dặm trường ly tan.
Người còn dang dở cơ hàn,
Người còn chưa kịp phụng hoàn mẹ cha.
Người ôm con nhỏ trong nhà,
Người chưa kịp trốn can qua phủ đầy.
Thương thay một cõi trời mây,
Trăm năm còn đọng tháng ngày bi ai.
Hôm nay cửa Phật mở khai,
Đèn thiền soi tỏ đường dài tử sinh.
Xin mời tất cả hương linh,
Theo làn hương ngát lặng mình trở về.
Xin mời trung liệt mọi bề,
Quan văn võ tướng lời thề còn ghi.
Xin mời nghĩa sĩ lâm nguy,
Vì dân vì nước chẳng nề thân mang.
Xin mời lê thứ xóm làng,
Bao người vô tội lỡ làng kiếp duyên.
Xin mời phụ nữ thảo hiền,
Mẹ già con dại não phiền năm xưa.
Xin mời trẻ nhỏ ngây thơ,
Chưa tròn mộng ước đã rời thế gian.
Xin mời khách bộ hành ngang,
Thương gia lỡ bước giữa ngàn đao binh.
Xin mời cô phách vô danh,
Không người hương khói, không hình khắc bia.
Xin thôi lưu lạc sơn khê,
Xin thôi vất vưởng bốn bề gió sương.
Theo về pháp hội mười phương,
Lắng nghe chuông pháp mở đường từ bi.
.png)
THẤT THỦ KINH ĐÔ
Tháng Năm hai mươi ba về,
Chuông chùa ngân vọng bốn bề Cố đô.
Sông Hương còn nước lững lờ,
Mà bao ký ức bây giờ còn nguyên.
Mây giăng phủ đỉnh Ngự Viên,
Gió lay thành cũ ưu phiền rêu phong.
Một đêm khói lửa ngập đồng,
Can qua xé nát non sông kinh kỳ.
Thành xưa nghiêng bóng từ ly,
Bao người ngã xuống còn gì tuổi xuân.
Có người giữ trọn trung quân,
Có người gìn giữ nghĩa dân cuối đời.
Có người chưa kịp một lời,
Mẹ cha còn đợi giữa trời chiều buông.
Có người vợ ngóng đầu đường,
Đến khi tóc bạc vẫn vương bóng người.
Có người thơ dại mồ côi,
Lớn lên chỉ biết đất trời mênh mang.
Dẫu qua mấy độ thu sang,
Nỗi đau còn đọng trên hàng cổ thâm.
Khói hương tưởng niệm âm thầm,
Lòng dân còn giữ trăm năm nghĩa tình.
Vua xưa thương xót sinh linh,
Cho lập đàn tế tỏ tình nước non.
Đàn Âm Hồn khói vẫn còn,
Mỗi mùa tháng Hạ hương tròn tỏa bay.
Người về cúi lạy hôm nay,
Không nuôi oán hận, chỉ đầy tri ân.
Tri ân người giữ giang san,
Tri ân lê thứ gian nan một thời.
Tri ân những phận con người,
Dẫu bên nào cũng một đời tử sinh.
Tiếng chuông cửa Phật lặng thinh,
Mở lòng hóa giải bất bình nhân gian.
Xin cho gió mát trăng ngàn,
Xóa tan khói lửa phủ màn năm xưa.
Xin cho mưa thuận gió vừa,
Muôn dân chung sống sớm trưa an hòa.
Huế còn mái ngói hiên nhà,
Còn dòng Hương chảy, còn hoa bên đường.
Còn người gìn giữ quê hương,
Còn lòng nhớ mãi đoạn trường năm nao.
Hai ba tháng Năm nghẹn ngào,
Ngàn sau vẫn thắp nén vào tâm hương.
Lịch sử soi sáng muôn phương,
Dạy người biết quý tình thương, hòa bình.
Nhat Chieu tổng hợp

















.jpg)

.jpg)

.jpg)
.jpg)
.jpg)
